Trường Đại học Khoa học tự nhiên đề xuất mô hình gắn kết nghiên cứu khoa học cơ bản với công nghệ chiến lược quốc gia

SDG4-Giáo dục có chất lượng
SDG9-Công nghệ - sáng tạo và phát triển hạ tầng

Ngày 23/10/2026, đoàn công tác Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, do PGS.TS Trần Minh Triết, Phó Hiệu trưởng nhà trường, làm trưởng đoàn, tham dự Hội nghị Khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Hội thảo Khoa học cơ bản năm 2026. Tại hội nghị, các nhà khoa học của trường trình bày nghiên cứu đề xuất mô hình tích hợp nghiên cứu khoa học cơ bản với công nghệ chiến lược, hướng đến chuyển hóa tri thức khoa học thành các sản phẩm phục vụ mục tiêu tự chủ công nghệ quốc gia. Hội nghị có chủ đề “Chiến lược phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản và đóng góp của khoa học cơ bản trong phát triển các sản phẩm chiến lược quốc gia”.

Đoàn đại biểu Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM do PGS.TS Trần Minh Triết làm trưởng đoàn tham gia Hội nghị.

Phát biểu khai mạc hội nghị, GS.TS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, nhấn mạnh vai trò của khoa học cơ bản trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2045, nhất là trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Theo đó, phát triển khoa học cơ bản cần đi đôi với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm nguồn lực tài chính, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tăng cường hợp tác quốc tế; đồng thời thúc đẩy liên kết giữa đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Tại hội nghị, đại diện Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, trình bày báo cáo “Phát triển mô hình nghiên cứu cơ bản tích hợp công nghệ chiến lược: Tiếp cận từ thực tiễn Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”. Báo cáo tập trung làm rõ vai trò của nghiên cứu cơ bản trong việc xây dựng nền tảng tri thức, phát triển công nghệ lõi và hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược, đồng thời đề xuất mô hình liên kết nhằm tăng cường khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị ứng dụng.

Theo nhóm tác giả, nghiên cứu cơ bản không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ công nghệ của quốc gia. Các lĩnh vực như toán học, vật lý, hóa học, khoa học sự sống, khoa học Trái Đất và khoa học môi trường có thể cung cấp nền tảng khoa học cho nhiều hướng công nghệ trọng điểm, từ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vi mạch bán dẫn đến công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng tái tạo và lưu trữ năng lượng. Vì vậy, phát triển khoa học cơ bản cần được đặt trong mối liên hệ với nhu cầu phát triển công nghệ và năng lực sản xuất trong dài hạn.

Từ thực tiễn triển khai tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, báo cáo chỉ ra một số điểm nghẽn trong quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, gồm khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, hạn chế nguồn lực phát triển sản phẩm, rủi ro thị trường, liên kết chưa chặt chẽ với doanh nghiệp và những vướng mắc về cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ. Những hạn chế này có thể khiến kết quả nghiên cứu dừng lại ở công bố khoa học, chưa phát huy đầy đủ giá trị trong hoạt động sản xuất và phát triển công nghiệp.

Để giải quyết vấn đề, nhóm tác giả đề xuất mô hình liên kết gồm bốn pha: khởi tạo đầu vào; phát triển lõi nghiên cứu; thiết lập trung gian chuyển hóa; và hình thành đầu ra. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng và bảo đảm nguồn lực đầu tư dài hạn; các cơ sở giáo dục đại học phát huy năng lực nghiên cứu, đào tạo nhân lực chất lượng cao; các tổ chức trung gian hỗ trợ đánh giá, hoàn thiện và thương mại hóa công nghệ; còn doanh nghiệp tham gia kết nối thị trường, tiếp nhận và đưa sản phẩm vào thực tiễn. Cách tiếp cận này hướng đến việc hình thành chuỗi liên kết xuyên suốt từ tri thức khoa học đến công nghệ và sản phẩm chiến lược quốc gia.

PGS.TS Trần Văn Mẫn, Trưởng phòng Phòng Khoa học – Công nghệ, đại diện trình bày tham luận tại Hội nghị.

Về triển khai, Trường Đại học Khoa học tự nhiên định hướng kết hợp đào tạo nhân tài, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và các trung tâm nghiên cứu xuất sắc với việc thúc đẩy nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Báo cáo đề cập đến các hướng ưu tiên như công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học và y sinh, bán dẫn và vật liệu năng lượng. Đồng thời, nhà trường hướng đến việc tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, phát triển các tổ chức nghiên cứu – công nghệ trung gian và xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung nhằm hỗ trợ hoạt động nghiên cứu liên ngành, kết nối nguồn lực và chuyển giao tri thức.

Một nội dung đáng chú ý khác là đề xuất đổi mới phương thức quản trị hoạt động khoa học theo hướng chú trọng chất lượng, tác động và khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu, thay vì chỉ tập trung vào số lượng công bố. Cùng với đó, cần có cơ chế hậu kiểm dựa trên kết quả đầu ra, phân biệt rủi ro trong thử nghiệm khoa học với các hành vi vi phạm, đồng thời nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu và tài sản trí tuệ.

Thông qua mô hình được đề xuất, nhóm tác giả nhấn mạnh yêu cầu phát triển một hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản có khả năng kết nối hiệu quả giữa nhà nước, các trường đại học,các tổ chức trung gian và doanh nghiệp. Đây được xem là hướng tiếp cận nhằm phát huy giá trị của tri thức nền tảng, góp phần phát triển công nghệ lõi, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hiện thực hóa mục tiêu tự chủ công nghệ chiến lược của Việt Nam đến năm 2045.

CTV.