NCS Đặng Diệp Yến Nga bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ CSĐT ngành Môi trường đất và nước

SDG4-Giáo dục có chất lượng

Ngày 04/4, tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, Nghiên cứu sinh Đặng Diệp Yến Nga đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ cấp cơ sở đào tạo ngành Môi trường đất và nước với đề tài “Nghiên cứu đặc trưng vi khuẩn và nấm mốc trong không khí và nước mưa tại một số trường học ở Thành phố Hồ Chí Minh”, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Tô Thị Hiền và GS.TS. Trần Văn Hiếu.

NCS Đặng Diệp Yến Nga trình bày nội dung luận án trước Hội đồng

Luận án được thực hiện trong bối cảnh các nghiên cứu về bụi sinh học tại Việt Nam còn hạn chế về dữ liệu định lượng và định danh ở mức phân tử, đặc biệt chưa có đánh giá đồng thời trong không khí và nước mưa. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá mật độ, thành phần và tính đa dạng của vi khuẩn, nấm mốc trong môi trường học đường, đồng thời phân tích sự biến động trước và sau mưa. Phương pháp nghiên cứu bao gồm lấy mẫu chủ động trên giấy lọc và đĩa petri để xác định mật độ (CFU/m³), kết hợp kỹ thuật giải trình tự gen 16S rRNA (Metabarcoding) để định danh vi khuẩn.

Kết quả cho thấy mật độ vi khuẩn trong lớp học dao động từ 158,0–697,8 CFU/m³, thấp hơn ngoài trời (174,0–718,0 CFU/m³). Nhiệt độ và độ ẩm tương đối ngoài trời có tương quan có ý nghĩa thống kê với mật độ vi khuẩn (p < 0,001), trong đó nhiệt độ tương quan thuận (ρ ≈ 0,51) và độ ẩm tương quan nghịch (ρ ≈ −0,54); nồng độ CO₂ có tương quan dương mức trung bình. Cộng đồng vi khuẩn ghi nhận 37 ngành, 1.115 chi và 1.183 loài, trong đó Actinobacteriota (32,4%), Proteobacteria (30,6%) và Firmicutes (24,1%) chiếm ưu thế; Bacillus và Staphylococcus là các chi thường gặp. Hoạt động của con người làm tăng mật độ và thay đổi cấu trúc quần xã, trong khi phòng máy lạnh có xu hướng giảm mật độ nhưng không tạo khác biệt đáng kể về thành phần.

Mật độ nấm mốc trong phòng máy lạnh dao động 178,3–236,1 CFU/m³ và ngoài trời 49,5–285,0 CFU/m³. Nhiệt độ có tương quan dương mạnh với mật độ nấm mốc (p < 0,001), trong khi độ ẩm và CO₂ không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê. Các chi nấm phổ biến gồm Aspergillus (A. niger, A. fumigatus, A. flavus) và Trichoderma; mật độ nấm mốc thấp hơn vi khuẩn và nằm dưới ngưỡng khuyến nghị của WHO và TCVN 13521:2022.

Đối với ảnh hưởng của mưa, mật độ vi khuẩn ngoài trời trước mưa dao động 263,4–277,9 CFU/m³ và trong nước mưa 264,9–285,7 CFU/m³. Sau mưa, mật độ giảm mạnh trong 1–2 giờ đầu, sau đó tăng dần và đạt cực đại sau 9 giờ (mưa lớn) và 12 giờ (mưa nhẹ và vừa). Tỷ lệ phục hồi đạt 100% đối với mưa nhẹ và vừa, và 94,6% đối với mưa lớn. Thành phần vi khuẩn trước và sau mưa chủ yếu gồm Actinobacteriota, Firmicutes và Proteobacteria.

Nghiên cứu sinh Đặng Diệp Yến Nga chụp ảnh lưu niệm cùng Hội đồng sau khi bảo vệ thành công luận án.

Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu nền về bụi sinh học trong môi trường học đường tại Việt Nam, làm cơ sở đề xuất các giải pháp kiểm soát thông qua tối ưu hóa điều kiện vi khí hậu trong nhà. Đồng thời, nghiên cứu cho thấy khả năng ứng dụng các kỹ thuật hiện đại trong quan trắc vi sinh môi trường và định hướng tiếp tục mở rộng nghiên cứu theo khu vực, mùa nhằm phục vụ xây dựng các tiêu chuẩn liên quan đến chất lượng không khí vi sinh.