Chiều ngày 24/3, tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, nghiên cứu sinh Đỗ Văn Nhật Trường đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp cơ sở đào tạo ngành Hóa Hữu cơ với đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học, hoạt tính ức chế enzyme xanthine oxidase và kháng viêm của Dây gắm (Gnetum montanum Markgr.)”, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Thị Thanh Mai.
Công trình tập trung khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Dây gắm tại Việt Nam, qua đó bổ sung thêm dữ liệu khoa học về dược liệu này và cung cấp cơ sở cho các định hướng nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Từ quá trình sàng lọc 22 mẫu cao chiết methanol (MeOH) từ 18 loài cây thuốc theo khả năng ức chế enzyme xanthine oxidase (XO) – enzyme liên quan đến quá trình hình thành acid uric trong bệnh gout – đề tài đã ghi nhận 12 mẫu có hoạt tính tốt (IC50 < 100 µg/mL). Trong đó, mẫu cao chiết từ thân Dây gắm cho kết quả nổi bật với giá trị IC50 = 76,7 µg/mL. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn thân Dây gắm để tiếp tục khảo sát chuyên sâu.
Một trong những kết quả nổi bật là việc phân lập và xác định cấu trúc thành công 47 hợp chất từ cao EtOAc của thân Dây gắm. Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã công bố 11 hợp chất mới lần đầu tiên được phát hiện, bao gồm 7 hợp chất thuộc nhóm stilbene, 2 hợp chất 2-phenylbenzofuran, 1 hợp chất lignan và 1 hợp chất phenolic acid glycoside. Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên hai nhóm hợp chất anthraquinone và cycloartane triterpene được ghi nhận trong loài cây này.

Bên cạnh việc làm rõ thành phần hóa học, công trình còn đánh giá hoạt tính sinh học của các cao chiết và hợp chất phân lập từ Dây gắm. Kết quả cho thấy các mẫu thử thể hiện khả năng ức chế enzyme XO và kháng viêm đáng chú ý, đồng thời không gây độc trên tế bào RAW264.7 ở nồng độ thử nghiệm.
Cụ thể, cao EtOAc cho khả năng ức chế XO mạnh nhất với giá trị IC50 = 25,3 µg/mL. Ở cấp độ phân tử, có 10 hợp chất thể hiện hoạt tính ức chế XO và 19 hợp chất kháng viêm (ức chế sản sinh NO) với giá trị IC50 < 100 µM. Trong đó, 6 hợp chất mới phân lập cho thấy hiệu quả ức chế XO tốt; còn trong thử nghiệm kháng viêm, các hợp chất khung stilbene ghi nhận kết quả nổi bật, tiêu biểu là isorhapontigenin với giá trị IC50 = 5,9 µM, tốt hơn chất đối chứng dương quercetin (14,0 µM).
Một điểm đáng chú ý khác là việc tối ưu hóa quy trình phân lập hai hợp chất có hoạt tính mạnh là resveratrol (5,0 g) và isorhapontigenin (50,0 g). Trên cơ sở đó, nghiên cứu sinh đã thiết lập thành công chất đối chiếu cho hai hợp chất này với độ tinh khiết lần lượt đạt 99,14% và 96,38%. Kết quả này góp phần phục vụ công tác định lượng thành phần hợp chất chính, hướng đến kiểm soát chất lượng dược liệu và các chế phẩm từ Dây gắm trong tương lai.
Hội đồng đánh giá ghi nhận nỗ lực nghiên cứu nghiêm túc, khối lượng công việc lớn cùng giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài. Những kết quả đạt được không chỉ bổ sung dữ liệu về hóa thực vật và hoạt tính sinh học của Dây gắm tại Việt Nam, mà còn góp phần làm rõ tiềm năng của loài cây này trong định hướng phát triển các sản phẩm từ dược liệu.
Một số hình ảnh tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ







