NCS Đoàn Thiên Thanh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về hoạt tính kháng Helicobacter pylori từ cây Vối

SDG4-Giáo dục có chất lượng
SDG9-Công nghệ - sáng tạo và phát triển hạ tầng

Chiều ngày 20/3/2026, tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM, nghiên cứu sinh Đoàn Thiên Thanh (ngành Công nghệ sinh học, khóa 2017) đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp cơ sở đào tạo với đề tài: “Nghiên cứu hoạt tính, cơ chế kháng Helicobacter pylori của cao chiết và các hợp chất ở cao phân đoạn hexane của lá và nụ hoa cây Vối (Cleistocalyx operculatus (Roxb.) Merr. et Perry)”.

Toàn cảnh buổi bảo vệ luận án tiến sĩ cấp cơ sở đào tạo của nghiên cứu sinh Đoàn Thiên Thanh.

Luận án được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GVC. TS. Lương Thị Mỹ Ngân và GVC. TS. Trần Trung Hiếu, tập trung khai thác tiềm năng dược liệu từ cây Vối – loài thực vật quen thuộc trong đời sống, có giá trị ứng dụng trong y học cổ truyền, nhưng cơ chế tác động sinh học vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Nội dung nghiên cứu tập trung thu nhận các cao chiết và cao phân đoạn từ lá và nụ hoa cây Vối, đồng thời định tính, định lượng các hợp chất tự nhiên hiện diện trong các cao chiết này. Trên cơ sở đó, luận án đánh giá hoạt tính kháng Helicobacter pylori và khả năng ức chế enzyme urease in vitro, đồng thời lựa chọn cao phân đoạn hexane từ nụ hoa để tiếp tục phân lập, xác định các hợp chất chính có hoạt tính sinh học. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích cơ chế tác động của các cao chiết và hợp chất lên quá trình hình thành biofilm, tính toàn vẹn và hình thái tế bào, cũng như mức độ biểu hiện các gene độc lực của vi khuẩn.

Nghiên cứu sinh Đoàn Thiên Thanh trình bày luận án tiến sĩ trước Hội đồng tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG-HCM.

Kết quả nghiên cứu đã thu nhận 14 cao tổng và 6 cao phân đoạn từ lá và nụ hoa cây Vối, trong đó các cao phân đoạn cho thấy hàm lượng hợp chất tự nhiên, đặc biệt là phenol và flavonoid, cao hơn so với cao tổng. Các cao phân đoạn hexane thể hiện hoạt tính ức chế H. pylori rõ rệt với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) dao động từ 62,5 đến 125 µg/mL, đồng thời có khả năng ức chế enzyme urease hiệu quả. Từ cao phân đoạn hexane của nụ hoa, nghiên cứu đã phân lập và xác định được ba hợp chất tiêu biểu gồm DMC, kaempferol và β-sitosterol, trong đó DMC và kaempferol cho thấy hoạt tính kháng H. pylori nổi bật.

Các hợp chất này không chỉ ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn mà còn tác động lên nhiều cơ chế sinh học quan trọng như ức chế hình thành biofilm, làm tăng tính thấm và phá vỡ cấu trúc màng tế bào, đồng thời làm giảm đáng kể mức độ biểu hiện các gene độc lực như cagA, vacA, ureA, ureB, flaA, flaB, flgE và dnaA. Kết quả đánh giá độc tính cho thấy các hợp chất có mức độ an toàn cao trên tế bào bình thường, qua đó cho thấy tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực y sinh.

Từ các kết quả đạt được, luận án đã cung cấp thêm bằng chứng khoa học về giá trị dược liệu của cây Vối trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh lý dạ dày liên quan đến Helicobacter pylori. Hướng tiếp cận từ hợp chất tự nhiên được xem là một hướng đi tiềm năng nhằm giảm phụ thuộc vào kháng sinh, góp phần hạn chế tình trạng kháng thuốc đang gia tăng hiện nay.

Đại diện Hội đồng nhận xét, đánh giá kết quả nghiên cứu của luận án.

Luận án được Hội đồng ghi nhận về cách tiếp cận có hệ thống, với số liệu rõ ràng và độ tin cậy; các kết quả đạt được có giá trị khoa học và ý nghĩa tham khảo trong nghiên cứu dược liệu và vi sinh.